Ngân hàng Nhà nước đề xuất thay thế tỷ lệ dư nợ cho vay so với tổng tiền gửi bằng tỷ lệ dư nợ cấp tín dụng so với huy động vốn, áp dụng mức trần 85% cho các ngân hàng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài.
Ngân hàng Nhà nước (NHNN) vừa công bố dự thảo Thông tư quy định về các giới hạn, tỷ lệ bảo đảm an toàn trong hoạt động của ngân hàng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài, trong đó có đề xuất thay đổi quan trọng: thay thế tỷ lệ dư nợ cho vay so với tổng tiền gửi bằng tỷ lệ dư nợ cấp tín dụng so với huy động vốn. Theo dự thảo, tỷ lệ này được tính trên thị trường 1 và phản ánh quy mô tổng dư nợ cấp tín dụng so với huy động vốn, với mức tối đa là 85%.

Tỷ lệ dư nợ cấp tín dụng so với huy động vốn: Đề xuất mới của Ngân hàng Nhà nước
Tỷ lệ dư nợ cấp tín dụng so với huy động vốn là gì?
Theo dự thảo Thông tư, tỷ lệ dư nợ cấp tín dụng so với huy động vốn (ký hiệu CDR) là chỉ số đo lường mức độ sử dụng vốn huy động để cấp tín dụng của ngân hàng. Công thức tính được quy định cụ thể như sau:
CDR = C / D
Trong đó:
- C: Tổng dư nợ cấp tín dụng (theo quy định tại khoản 2 và khoản 3 Điều này).
- D: Huy động vốn (theo quy định tại khoản 4 Điều này).
Hoạt động cấp tín dụng trong quy định này được hiểu theo khoản 4 Điều 4 Luật các tổ chức tín dụng.
“Việc thay thế tỷ lệ dư nợ cho vay so với tổng tiền gửi bằng tỷ lệ dư nợ cấp tín dụng so với huy động vốn giúp phản ánh toàn diện hơn rủi ro thanh khoản của ngân hàng, bao gồm cả đầu tư trái phiếu doanh nghiệp và các khoản ủy thác,” theo đánh giá của các chuyên gia pháp lý.
Các khoản mục cấu thành tổng dư nợ cấp tín dụng (C)
Tổng dư nợ cấp tín dụng (C) bao gồm các khoản mục sau:
- Dư nợ cấp tín dụng đối với cá nhân, tổ chức (không bao gồm dư nợ cấp tín dụng đối với tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài khác tại Việt Nam).
- Các khoản ủy thác cho tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài khác cấp tín dụng.
- Dư nợ đầu tư vào trái phiếu doanh nghiệp (tổng số tiền đầu tư trừ đi dư nợ gốc mà doanh nghiệp đã thanh toán).
Sau đó, tổng dư nợ cấp tín dụng được trừ đi các khoản mục sau (theo khoản 3 Điều dự thảo):
- Dư nợ cấp tín dụng bằng nguồn ủy thác của Chính phủ, cá nhân và tổ chức khác (bao gồm tổ chức tín dụng, ngân hàng mẹ) mà rủi ro do bên ủy thác chịu.
- Nguồn vốn vay ở nước ngoài của ngân hàng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài (bao gồm vốn vay từ ngân hàng mẹ và các chi nhánh ở nước ngoài).
- Số dư vay tái cấp vốn của NHNN (không bao gồm vay hỗ trợ khả năng chi trả tạm thời).
- Vốn điều lệ, vốn được cấp, quỹ dự trữ bổ sung vốn điều lệ, quỹ đầu tư phát triển và quỹ dự phòng tài chính (sau khi trừ lỗ lũy kế, giá trị nguyên giá tài sản cố định, góp vốn, mua cổ phần).
- Thặng dư vốn cổ phần, lợi nhuận chưa phân phối (sau khi mua cổ phiếu quỹ) và số tiền lãi phải thu từ hoạt động cấp tín dụng.
- Chênh lệch tỷ giá hối đoái do đánh giá lại vốn chủ sở hữu có gốc ngoại tệ.
Huy động vốn (D) bao gồm những gì?
Huy động vốn (D) được quy định tại khoản 4 Điều dự thảo, bao gồm:
- Tiền gửi của tổ chức trong nước và nước ngoài (bao gồm cả chứng chỉ tiền gửi), trừ: tiền gửi của tổ chức tín dụng khác; tiền ký quỹ và tiền gửi vốn chuyên dùng; tiền gửi không kỳ hạn của Kho bạc Nhà nước; 80% tiền gửi có kỳ hạn của Kho bạc Nhà nước.
- Tiền gửi của cá nhân (bao gồm cả chứng chỉ tiền gửi), trừ tiền ký quỹ và tiền gửi vốn chuyên dùng.
- Tiền huy động từ phát hành trái phiếu do ngân hàng phát hành, trừ số dư trái phiếu mà tổ chức tín dụng khác nắm giữ.
- Nguồn vốn ủy thác cấp tín dụng của Chính phủ, cá nhân và tổ chức khác (bao gồm tổ chức tín dụng, ngân hàng mẹ) mà ngân hàng nhận và chịu rủi ro khi thực hiện cấp tín dụng theo ủy thác.
Mức trần tối đa và ngoại lệ
Theo khoản 5 Điều dự thảo, ngân hàng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài phải duy trì tỷ lệ dư nợ cấp tín dụng so với huy động vốn tối đa 85%. Đối với ngân hàng mới thành lập trong 3 năm đầu, Thống đốc NHNN sẽ quy định tỷ lệ cụ thể khác cho từng ngân hàng.
Tuy nhiên, tại khoản 6 Điều dự thảo, ngân hàng không phải thực hiện tỷ lệ này nếu vốn điều lệ, vốn được cấp còn lại sau khi trừ lỗ lũy kế, giá trị nguyên giá tài sản cố định, góp vốn, mua cổ phần lớn hơn dư nợ cho vay.
Tác động thực tiễn
Việc thay thế tỷ lệ dư nợ cho vay so với tổng tiền gửi bằng tỷ lệ dư nợ cấp tín dụng so với huy động vốn sẽ mở rộng phạm vi tính toán, bao gồm cả đầu tư trái phiếu doanh nghiệp và các khoản ủy thác. Điều này giúp NHNN kiểm soát chặt chẽ hơn rủi ro thanh khoản của hệ thống ngân hàng, đặc biệt trong bối cảnh thị trường trái phiếu doanh nghiệp đang phát triển mạnh. Các ngân hàng có tỷ lệ đầu tư trái phiếu doanh nghiệp cao sẽ chịu áp lực điều chỉnh danh mục để đảm bảo tuân thủ mức trần 85%.
Câu hỏi thường gặp
Tỷ lệ dư nợ cấp tín dụng so với huy động vốn khác gì so với tỷ lệ dư nợ cho vay so với tổng tiền gửi?
Tỷ lệ mới mở rộng phạm vi bao gồm cả dư nợ đầu tư trái phiếu doanh nghiệp và các khoản ủy thác cấp tín dụng, trong khi tỷ lệ cũ chỉ tính dư nợ cho vay. Ngoài ra, mẫu số huy động vốn cũng được điều chỉnh, loại trừ nhiều khoản mục hơn.
Ngân hàng nào được miễn áp dụng tỷ lệ này?
Ngân hàng có vốn điều lệ, vốn được cấp còn lại (sau khi trừ lỗ lũy kế, tài sản cố định, góp vốn, mua cổ phần) lớn hơn dư nợ cho vay sẽ không phải thực hiện tỷ lệ tối đa 85%.
Thời điểm dự thảo Thông tư có hiệu lực?
Dự thảo đang được NHNN lấy ý kiến. Thời điểm có hiệu lực sẽ được công bố sau khi Thông tư chính thức được ban hành.
Cần được hỗ trợ pháp lý về vấn đề này?
Hãy để Luật sư Quân đánh giá đúng tình huống cụ thể của bạn.




